Chuyển đến nội dung chính

Chức năng của vành đỡ (tyre) và con lăn (roller) ở lò quay

Thanh Sơn biên dịch, bản quyền thuộc baoduongcokhi.com

Mục đích của vành đỡ lò quay (tiếng anh là Kiln tyre hay ridding ring), và con lăn (roller) là để đỡ lò quay và cho phép nó quay với ma sát tối thiểu. 

Lò quay là một trong những máy quay công nghiệp lớn nhất, có lò quay trọng lượng vài nghìn tấn khi đầy tải. 

Lò quay nhà máy xi măng

Bất chấp những thách thức về kích thước và nhiệt độ cao, điển hình nhất là lò quay được đỡ quay trên các con lăn gần như không ma sát, năng lượng do bộ truyền động cung cấp gần như hoàn toàn để chống lại tải trọng lệch tâm của nguyên liệu có trong lò. 

Khi ngắt truyền động lò quay, lò sẽ "lăn ngược lại" và khi được tác động phanh, lò sẽ tiếp tục lắc lư như một con lắc trong mười hoặc mười lăm phút trước khi dừng lại. Điều kiện cơ học được tinh chỉnh này đòi hỏi thiết kế phức tạp của các bệ đỡ của lò quay.


Cấu tạo lò quay

Một thiết kế tiêu chuẩn đã phát triển trong ba thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, cho phép sự gia tăng lớn về kích thước của các lò quay sau đó.

Vành đỡ lò quay (Rotary kiln tyre):

Bản thân vành đỡ quay thường là loại thép đúc đơn, được gia công theo các kích thước tròn chính xác và có kết cấu nhẵn bóng trên mọi bề mặt. Vành đỡ ban đầu đôi khi được sản xuất dưới dạng 2 nửa có thể dễ dàng lắp ráp và thay thế, nhưng loại vành đỡ này nhanh chóng bị không còn được sử dụng vì dẫn đến sự mài mòn nhanh chóng ở các khớp nối.

Trong thiết kế tiêu chuẩn, vành đỡ được gắn có độ lỏng (độ rơ) trên vỏ lò quay (kiln shell). Thông thường, vành đỡ sẽ mát hơn vỏ lò quay, và do đó một khe hở nhỏ cho phép sự giãn nở diễn ra. Khe hở thường được thiết kế bằng khoảng 0,2% đường kính vỏ ở nhiệt độ hoạt động bình thường. Thùng lò chịu lực đè xuống mặt bên trong của vành đỡ thông qua các tấm đỡ (chair pad) có bề mặt nhẵn cũng có các vấu giữ (lugs bracketing) chặn vành đỡ, ngăn không cho nó trượt theo phương dọc thân lò. Khoảng cách (gap) của các tấm đỡ cũng làm giảm lượng nhiệt truyền từ vỏ lò vào vành đỡ. Vành đỡ cần phải duy trì ở trạng thái tương đối mát vì một vật đúc lớn như vậy sẽ khó có thể tồn tại một sự chênh lệch nhiệt độ hướng tâm lớn trong suốt quá trình gia nhiệt cho lò quay. Một tác động khác của khoảng cách (gap) là vành đỡ sẽ dần dần xoay xung quanh lò quay, vành đỡ sẽ quay trọn 1 vòng với mỗi 500 vòng quay của lò quay. Đo tỷ lệ tiến động (rate of precession) là một cách sơ bộ và dễ dàng để đánh giá khe hở của vành đỡ với vỏ lò quay khi lò đang hoạt động. Những thay đổi nhỏ do độ mòn có thể được điều chỉnh bằng cách thêm miếng chêm (shim).

Con lăn đỡ lò quay (Roller):

Thiết kế cơ bản của con lăn ít thay đổi trong những năm qua. Các con lăn được lắp đặt trên một tấm đế lớn bằng gang hoặc bằng thép để cung cấp các lực ngang hướng vào trong các con lăn và phân bổ trọng lượng của lò quay trên trụ móng đỡ. 

Khoảng cách giữa các con lăn phải đủ nhỏ để ngăn các lực ngang lớn, nhưng đủ lớn để giữ cho lò ổn định về mặt hướng kính. Các con lăn được thiết kế để tạo một góc 60° ở tâm vành đỡ (xem ảnh), và điều này dường như luôn xảy ra. Cho phép điều chỉnh nhỏ để lò quay có thể được giữ đồng tâm (tức là giữ cho tâm của vành đỡ đồng tâm) khi có những thay đổi nhỏ, chẳng hạn như độ mòn của vành đỡ hoặc độ lún của trụ móng.

Mặt ngoài con lăn được làm rộng hơn so với mặt vành đỡ, chủ yếu để cho phép lò quay co lại trong quá trình ngừng hoạt động. Điều này đặt ra một vấn đề: nếu vành đỡ vẫn ở một vị trí so với con lăn, mài mòn hoặc biến dạng dẻo sẽ hình thành vết lõm trên mặt con lăn. Do đó, việc cố tình làm cho lò “ nổi - lơ lửng” “float” (tức là thường xuyên di chuyển đi lên (uphill) và đi xuống (downhill) qua các con lăn) là một thực tế bình thường để tránh mài mòn. Vì lò quay có độ dốc (thường là 1,5° đến 3,5°) nên nó có xu hướng trượt xuống phía chân dốc (slip downhill) tự nhiên khi quay. Ngay từ những lần đầu tiên, xu hướng này đã được bù đắp bằng cách tạo các con lăn mặt có rãnh cắt (cutting)– tạo đường xiên so với tâm trục của con lăn một góc rất nhỏ để có tác động như của vặn vít đi lên (uphill screw action) được truyền vào vành đỡ. Hành động này dựa trên ma sát giữa bề mặt vành đỡ và con lăn, và do đó người vận hành có thể làm cho lò di chuyển lên hoặc xuống bằng cách điều chỉnh lượng ma sát. Để phòng ngừa thêm để ngăn lò quay rơi ra khỏi các con lăn của nó, các con lăn đỡ dọc thân lò đặt ở 1 mặt bên của vành đỡ được sử dụng. Chúng thường được đặt trên con lăn gần bộ truyền động nhất, nơi cần hạn chế chuyển động nhất.

Dựa vào ma sát, việc tạo rãnh cắt trên các con lăn chắc chắn sẽ làm tăng tốc độ mài mòn, và sau khi trở thành thông lệ tiêu chuẩn trong nhiều năm, nó đã bị loại bỏ từ những năm 1950 trở đi để chuyển sang sử dụng các bộ đẩy cơ học (mechanical thrusters) để làm nổi lò. Chúng thường có dạng pittong thủy lực gắn với con lăn đỡ hướng dọc thân lò (thrust roller), được điều khiển tự động để truyền dao động dọc trục răng cưa đến vị trí của lò, với biên độ vài cm.


Con lăn đỡ hướng dọc thân lò (thrust roller) (ảnh minh họa)

Related Posts by Categories



Nhận xét

Bài đăng xem nhiều

Dung sai và các chế độ lắp ghép bề mặt trụ trơn [pdf]

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Ví dụ bạn cần gia công 1 trục bơm ly tâm 1 cấp, khi lên bản vẽ gia công thì cần dung sai gia công, việc chọn dung sai gia công thì căn cứ vào kiểu lắp ghép như vị trí lắp vòng bi: đối với vòng trong vòng bi với trục bơm thì sẽ lắp theo hệ thống lỗ (vì kích thước vòng bi không thay đổi được), nên việc lắp chặt hay trung gian là do bạn lựa chọn dựa trên các tiêu chí ở dưới. Còn thân bơm với vòng ngoài vòng bi thì lắp theo hệ trục (xem vòng ngoài vòng bi là trục). Bạn cũng cần lưu ý việc lắp chặt hay trung gian có thể ảnh hưởng đến khe hở vòng bi khi làm việc nên cần cân nhắc cho phù hợp với điều kiện vận hành, loại vòng bi (cùng loại vòng bi, vòng bi C2, C3 có khe hở nhỏ hơn C4, C4 nhỏ hơn C5). Nếu bạn đang dùng C3, lắp trung gian mà chuyển sang lắp chặt có thể làm giảm tuổi thọ vòng bi vì khe hở giảm hoặc không đáp ứng yêu cầu làm việc. Sơ đồ miền dung sai Miền dung sai Miền dung sai được tạo ra bằng cách phối hợp giữa  1 sai

Bảo trì năng suất toàn diện (Total Productive Maintenance)

Toàn bộ file điện tử powerpoint này: TPM P-1.ppt 1382K TPM P-2.ppt 336K TPM P-3.ppt 2697K Link download http://www.mediafire.com/?upl33otz5orx0e1

Một số thiết bị chưng cất

Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của nền công nghiệp thế giới và nước nhà, các ngành công nghiệp cần rất nhiều hoá chất có độ tinh khiết cao. Chưng cất  ( distillation ) là quá trình dùng nhiệt để tách một hỗn hợp lỏng ra thành các cấu tử riêng biệt dựa vào độ bay hơi khác nhau của các cấu tử trong hỗn hợp ở cùng một nhiệt đo. Chưng cất = Gia nhiệt + Ngưng tụ Ta có thể phân biệt chưng cất ra thành quy trình một lần như trong phòng thí nghiệm để tách một hóa chất tinh khiết ra khỏi một hỗn hợp, và chưng cất liên tục, như trong các tháp chưng cất trong công nghiệp.  Xem kênh Youtube của Bảo Dưỡng Cơ Khí!  Hãy đăng ký kênh để nhận thông báo video mới nhất về Thiết bị chưng cất  Trong nhiều trường hợp có một tỷ lệ nhất định của hỗn hợp hai chất lỏng mà không thể tiếp tục tách bằng phương pháp chưng cất được nữa. Các hỗn hợp này được gọi là hỗn hợp đẳng phí. Nếu muốn tăng nồng độ của cồn phải dùng đến các phương pháp tinh cất đặc biệt khác. Có thể sử dụng các loại tháp chưng cất

Giới thiệu về Tua bin khí (Gas Turbine)

Turbine khí, còn được gọi là tuốc bin khí  (Gas Turbine) , là một loại động cơ nhiệt được sử dụng để chuyển đổi nhiệt năng thành năng lượng cơ học thông qua quá trình đốt cháy khí và chuyển động quay turbine. Một máy phát điện Generator kéo bởi một tuốc bin khí. Đây là tổ hợp của máy nén khí + tuốc bin khí + máy phát điện. Không khí được hút vào và nén lên áp suất cao nhờ một máy nén. Nhiên liệu cùng với không khí này sẽ được đưa vào buồng đốt để đốt cháy. Khí cháy sau khi ra khỏi buồng đốt sẽ được đưa vào quay turbine. Vì thế nên mới gọi là turbine khí. Năng lượng cơ học của turbine một phần sẽ được đưa về quay máy nén, một phần khác đưa ra quay tải ngoài, như cách quạt, máy phát điện... Đa số các turbine khí có một trục, một đầu là máy nén, một đầu là turbine. Đầu phía turbine sẽ được nối với máy phát điện trực tiếp hoặc qua bộ giảm tốc. Riêng mẫu turbine khí dưới đây có 3 trục. Trục hạ áp gồm máy nén hạ áp và turbine hạ áp. Trục cao áp gồm máy nén cao áp và turbine cao áp. Trục th

Các website nhà sản xuất cung cấp thiết bị động và phụ tùng

Bơm A.R Wilfley ABS ACD Cryo ACE ACME Dynamics Aermotor Afton Albany Aldo Barbera Alfa Laval All Flavor (AFEC) AllegenyBradford (Topline) All Pumps Allweiler Alpha Flo-Systems American Stainless American-Marsh Ampco AMT Ansimag Apex APV Argal Armstrong Aturia Aurora A.Y.McDonald BBC Electro Beckett Bell & Gossett BJM Blackmer Bombas Itur Brinkmann BSM Buffalo Burks Caffini Calama Calpeda Camac Caprari Carver Casals Caster CDR CEF Chempump(Teikoku) Clark Corcoran Cornell Corporacion EG Crane DAB Danner Davey David Brown-Union Dean Desm

Tải miễn phí phần mềm triển khai hình gò

Phần mềm này sẽ giúp các bạn đưa ra bản vẽ triển khai gia công đầy đủ và chính xác, cho phép các bạn xuất ra bản vẽ Autocad để tiện hơn cho việc tính toán, in ấn , quản lý. [MF] —–  nhấn chọn để download Lưu ý: sau khi giải nén và cài đặt thì chép pns4.exe (có sẵn sau khi giải nén) đè lên file pns4.exe mới. Phiên bản này có đầy đủ kích thước với các kiểu ống và help. Nên chạy run as administrator trong win 7. Xin chào bạn!  Nếu bạn đang thích trang web của chúng tôi và thấy các bài viết của chúng tôi hữu ích, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của bạn. Với sự giúp đỡ của bạn, chúng tôi có thể tiếp tục phát triển tài nguyên và cung cấp cho bạn nội dung có giá trị hơn nữa.  Cảm ơn bạn đã ủng hộ chúng tôi. Nguyễn Thanh Sơn

Cách kiểm tra và đánh giá vết ăn khớp (tooth contact) của cặp bánh răng

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về  www.baoduongcokhi.com Hộp số với cặp bánh răng nghiêng Tooth contact là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động hiệu quả và độ bền của bánh răng Mục đích Các bánh răng phải có tải trọng phân bố đều trên bề mặt răng khi làm việc ở điều kiện danh định.  Nếu tải trọng phân bố không đều, áp lực tiếp xúc và ứng suất uốn tăng cục bộ , làm tăng nguy cơ hư hỏng.  Gear Run Out của bánh răng là gì? cách kiểm tra Bánh răng và hộp số, phần 3: Phân tích dầu tìm nguyên nhân hư hỏng bánh răng. Bánh răng và Hộp số, phần 2: Các loại hộp số, bôi trơn, hư hỏng thường gặp Bánh răng và hộp số, phần 1: Các loại bánh răng (types of gears) Để đạt được sự phân bố tải đều, bánh răng cần có độ chính xác trong thiết kế, sản xuất, lắp ráp và lắp đặt các bộ phận của hộp số. Các yếu tố này được kiểm tra, test thử nghiệm và kiểm tra tại xưởng của nhà sản xuất thiết bị. Lắp đặt đúng cách tại hiện trường là bước cuối cùng để đảm bảo khả năng ti

Chọn vật liệu chế tạo bánh răng và xử lý nhiệt

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về  www.baoduongcokhi.com Điều cần thiết là chọn vật liệu và xử lý nhiệt thích hợp phù hợp với ứng dụng dự kiến ​​của bánh răng. Vì các bánh răng được ứng dụng cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau, chẳng hạn như máy móc công nghiệp, thiết bị điện/điện tử, đồ gia dụng và đồ chơi, và bao gồm nhiều loại vật liệu, nên chúng tôi muốn giới thiệu các vật liệu điển hình và phương pháp xử lý nhiệt của chúng. Hộp số 1. Các loại vật liệu chế tạo bánh răng a) S45C (Thép cacbon dùng cho kết cấu máy): S45C là một trong những loại thép được sử dụng phổ biến nhất, chứa lượng carbon vừa phải ( 0,45% ). S45C dễ kiếm được và được sử dụng trong sản xuất bánh răng trụ thẳng, bánh răng xoắn, thanh răng, bánh răng côn và bánh răng trục vít bánh vít . Xử lý nhiệt và độ cứng đạt được: nhiệt luyện độ cứng Không < 194HB Nhiệt luyện bằng cách nung nóng, làm nguội nhanh (dầu hoặc nước) và ram thép, còn gọi là quá trìnhT

Khe hở mặt răng (backlash) và khe hở chân/đỉnh răng (root/tip clearance)

Viết bài : Nguyễn Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Các thông số cơ bản của bánh răng Về những thông số của bánh răng, có rất nhiều thông số để phục vụ cho quá trình gia công, thiết kế và lắp đặt máy. Tuy nhiên có một số thông số cơ bản bắt buộc người chế tạo cần phải nắm rõ, gồm: Đường kính Vòng đỉnh (Tip diameter): là đường tròn đi qua đỉnh răng, da = m (z+2) . Đường kính Vòng đáy (Root diameter): là vòng tròn đi qua đáy răng, df = m (z-2.5) . Đường kính Vòng chia (Reference diameter): là đường tròn tiếp xúc với một đường tròn tương ứng của bánh răng khác khi 2 bánh ăn khớp với nhau, d = m.Z   Số răng: Z=d/m Bước răng (Circular Pitch): là độ dài cung giữa 2 profin của 2 răng kề nhau đo trên vòng chia, P=m. π Modun: là thông số quan trọng nhất của bánh răng, m = P/π ; ha=m. Chiều cao răng (whole depth): là khoảng cách hướng tâm giữa vòng đỉnh và vòng chia; h=ha + hf=2.25m, trong đó ha=1 m, hf=1,25 Chiều dày răng (w

Sổ tay tiếng anh kỹ thuật [pdf]

Giới thiệu nội dung cuốn sách "Sổ tay tiếng anh kỹ thuật"  Nhu cầu học tiếng anh trong các nghành kỹ thuật ngày càng tăng trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu đó, nhóm tác giả đã biên soạn cuốn sách này. Nội dung cuốn sách bao gồm Phần mở đầu, phần thuật ngữ và phần số liệu. - Phần mở đầu nhóm tác giả giới thiệu lối phiên âm quốc tế mới nhất - Phần các thuật ngữ được phân loại theo từng chủ đề bao quát trong nghành cơ khí, từ vẽ kỹ thuật đến nguyên lý máy… - Phần số liệu gồm các hình vẽ, các bảng tiêu chuẩn… Link tải: Tại đây  hoặc tại đây ----- Xin chào bạn! Nếu bạn đang thích trang web của chúng tôi và thấy các bài viết của chúng tôi hữu ích, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của bạn. Với sự giúp đỡ của bạn, chúng tôi có thể tiếp tục phát triển tài nguyên và cung cấp cho bạn nội dung có giá trị hơn nữa.  Cảm ơn bạn đã ủng hộ chúng tôi.  Nguyễn Thanh Sơn

Nghe Podcast Bảo Dưỡng Cơ Khí