Chuyển đến nội dung chính

TMI-2: Sự cố lò hạt nhân lớn nhất lịch sử Mỹ

4 giờ sáng thứ năm, ngày 28/3/1979, người dân ở hạt Dauphin, bang Pennsyvalnia, Mỹ, vẫn còn say giấc trong cảnh êm đềm về sáng của một thành phố công nghiệp, nổi tiếng của lịch sử nước Mỹ.
Không ai biết được rằng, tai họa đang ngấm ngầm ập xuống cuộc sống của họ tại một nhà máy điện hạt nhân nằm trên bán đảo Three Miles Island, sông Susquehanna.
Chuyện gì đã xảy ra ở TMI - 2?
Một vài máy bơm chất làm lạnh bị ngưng hoạt động ở tổ máy thứ 2 (gọi tắt là TMI-2) của nhà máy, kéo động cơ ngưng hoạt động. Ngay tức khắc, áp lực trong hệ thống tăng lên đột ngột khiến hệ thống van xả phải tự động mở. Lẽ ra, van này phải được đóng lại khi áp lực hệ thống hạ xuống nhưng nó không đóng lại. Hệ thống chỉ báo cũng không cho thấy van không đóng được. Chất làm lạnh tràn ra theo đường van khiến hệ thống bị quá nhiệt. Lõi lò phản ứng hạt nhân bị tan chảy khiến một lượng lớn chất phóng xạ phát ra ngoài.
Nhìn từ phía Đông, lò TMI-2 nằm bên phải, có 2 tháp chứa nước làm nguội cho lò phản ứng. (Ảnh: NARA)
7h45 sáng hôm đó, một chuyên gia có nhiệm vụ đo đạt mức phóng xạ xung quanh phát hiện ra điều bất thường. Họ chưa biết lõi lò đã bị chảy hơn phân nửa, nhưng đã lập tức làm nguội hệ thống. Ủy ban Điều phối Hạt nhân Mỹ (URC) tại Washington D.C. nhận được hung tin vào lúc 8 giờ sáng, lập tức thành lập ngay một tổ công tác dùng chuyên cơ lấy mẫu không khí vùng lân cận để xác định mức độ rò rỉ phóng xạ.
9h15 sáng, Nhà Trắng nhận được thông báo về tình hình ở Three Miles Island. Khoảng 3 giờ chiều hôm đó, hệ thống lò hạt nhân đã tạm thời ổn định. Trời tờ mờ sáng thứ sáu hôm sau, người dân nhận được lệnh sơ tán ra khỏi khu vực hạt Dauphin, bán kính ít nhất 20 dặm, ưu tiên phụ nữ có thai và trẻ em dưới 5 tuổi.
Trớ trêu, chỉ 12 ngày trước đó, bộ phim Hội Chứng Trung Hoa (China Syndrome, do 2 tài tử nổi danh thủ vai: Jane Fonda và Michael Douglas) vừa được công chiếu nói về một vụ nổ nhà máy phản ứng hạt nhân. Mặc dù, bang Pennsyvania đã tuyên bố lượng phóng xạ rò rỉ không nhiều nhưng dân tình vẫn trở nên hỗn loạn vì tác động của những hình ảnh trong bộ phim trước đó.
Tổng thống Mỹ, Jimmy Carter và phu nhân đứng trong phòng điều khiển của lò TMI-2 sau sự cố. Bên trái là Harold Denton, Giám đốc NRC. (Ảnh: Jimmy Carter Library)
Chuyên gia phát hiện nhiều bong bóng khí hydro trên nắp van thoát, có thể khiến gây ra một vụ nổ nếu tồn tại oxy trong hệ thống van xả. Suốt ngày thứ bảy, NRC chỉ huy cô lập hệ thống để bảo đảm không để cho khí oxy có thể rò rỉ vào van thoát. Đến sáng chủ nhật, ngày 1/4, URC tuyên bố sẽ không còn nguy cơ phát nổ. Cả nước Mỹ thở phào nhẹ nhõm. Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đến hiện trường. Bản thân ông Carter là một kỹ sư hạt nhân, ông biết những hệ quả gì sau vụ rò rỉ này.
Do bất cẩn hay định mệnh?
Mặc dù không có một vụ nổ nào, không gây ra thương vong hay tử vong tại chỗ, nhưng đây là một tai nạn có hậu quả lớn nhất của ngành công nghiệp hạt nhân dân sự Mỹ.  Trách nhiệm được quy cho 4 người đàn ông: William Zewe - giám sát bộ phận giao ca tổ máy TMI-1 và TMI-2; Fred Scheimann - kỹ thuật viên nhận ca trực; Edward Frederick và Craig Faust - 2 nhân viên giám sát phòng điều khiển.
Bốn chuyên viên này đều được đào tạo bởi trung tâm Metropolitan Edison and Babcock & Wilcox và được NRC cấp bằng. Tuy nhiên, đứng trước tòa, họ cho rằng chưa bao giờ được huấn luyện về sự cố máy bơm bị ngưng hoạt động dẫn đến van xả không đóng.
Phòng triển lãm tư liệu về sự cố TMI-2 ở Pennsylvania, Mỹ. (Ảnh: Harold Dorwin)
Các nghiên cứu được công bố sau đó cho thấy lượng phóng xạ rò rỉ dưới mức cho phép, 0.08 milisieverts đối với người ở cách xa 10 dặm, chỉ bằng một lần chụp X-quang. Tuy nhiên, Sở Y tế Pennsylvania vẫn thiết lập một chương trình chăm sóc đặc biệt, kéo dài 18 năm cho những người sống trong bán kính 5 dặm tính từ khu nhà máy hạt nhân tại hạt Dauphin. Theo báo cáo tổng kết chương trình, kết thúc vào giữa năm 1997, không phát hiện ca ung thư nào có liên quan đến sự cố rò rỉ phóng xạ từ nhà máy hạt nhân Three Miles Island.
Tháng 6 năm 1996, 17 năm sau sự cố ở Three Miles Island, thẩm phán Sylvia Rambo của tòa án hạt Harrisburg, bang Pennsylvania, đã bác đơn kiện của một nhóm nguyên đơn đòi bồi thường vì vụ tai nạn hạt nhân. Nguyên đơn đã kháng án lên tòa phúc thẩm nại rằng: Có vài vụ nổ khí hydro trong hệ thống không được chính phủ tiết lộ, khiến cho mức độ rò rỉ phóng xạ cao hơn mức đã công bố.
Tuy nhiên, tòa phúc thẩm, sau đó, vẫn bác đơn kháng án của nguyên đơn với lý do bên nguyên không đưa ra được bằng chứng về các vụ nổ. Chính sự cố ở Three Miles Island đã làm thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp hạt nhân của Mỹ. Các báo cáo tổng hợp đưa ra các nguyên nhân chính: Bất cẩn từ phía chuyên viên, thiết kế yếu kém và các chi tiết máy vận hành kém an toàn. Nhiều tiêu chuẩn an toàn mới đã được ban hành sau sự cố. Chương trình tắt lò phản ứng hạt nhân TMI-2 kéo dài 11 năm, kết thúc vào năm 1990. Trong khi đó, lò TMI-1 vẫn hoạt động cho đến ngày hôm nay.
Những vụ nổ hạt nhân khác trên thế giới
12/12/1952: lò Chalk River ở Ottawa, Canada, bị nóng chảy sau khi rút 4 thanh điều khiển ra khỏi lò, khiến hàng triệu gallon chất lỏng phóng xạ chảy vào lò - không có thương vong. 10/1957: lò nấu plutonium ở nhà máy hạt nhân Windscale, Anh Quốc, bị bốc cháy, chất phóng xạ bị thoát vào không khí. Tuy không có thương vong nhưng hàng chục người ở vùng lân cận Liverpool đã bị ung thư.
Mùa đông 1957 - 1958: Hàng trăm người ở Kyshtym, Liên Xô cũ, bị chết sau vụ nổ gần 70 tấn chất phóng xạ tại một nhà máy hạt nhân gần dãy núi Urals.
21/1/1969: Hệ thống làm mát của lò hạt nhân ngầm Lucens Vad, Thụy Sĩ, bị hư hỏng gây ra một vụ rò rỉ phóng xạ ngầm dưới lòng đất.
25/4/1981: 45 công nhân bị nhiễm phóng xạ chết tại chỗ khi đang sửa chữa lò hạt nhân tại Tsuruga, Nhật Bản.
26/4/1985: 31 người chết tại chỗ sau vụ nổ lò Chernobyl, Liên Xô cũ. Đây là vụ nổ lò hạt nhân lớn nhất trong lịch sử. Hàng trăm ngàn người bị ảnh hưởng vì chất phóng xạ rò rỉ.
11/1995: Lò hạt nhân ở Monju, Nhật Bản bị rò rỉ 3 tấn sodium từ hệ thống làm mát.
03/1997: Lò hạt nhân Tokaimura, Nhật Bản, bị bốc cháy khiến 35 công nhân bị nhiễm độc.
30/9/1999: Lò sản xuất uranium ở Tokaimura, Nhật Bản, rò rỉ khiến 55 công nhân bị nhiễm độc. 300,000 người dân xung quanh được yêu cầu không được ra ngoài.
Báo Khoa học & Đời Sống Online
SCCK.TK

Related Posts by Categories



Nhận xét

Bài đăng xem nhiều

Dung sai và các chế độ lắp ghép bề mặt trụ trơn [pdf]

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Ví dụ bạn cần gia công 1 trục bơm ly tâm 1 cấp, khi lên bản vẽ gia công thì cần dung sai gia công, việc chọn dung sai gia công thì căn cứ vào kiểu lắp ghép như vị trí lắp vòng bi: đối với vòng trong vòng bi với trục bơm thì sẽ lắp theo hệ thống lỗ (vì kích thước vòng bi không thay đổi được), nên việc lắp chặt hay trung gian là do bạn lựa chọn dựa trên các tiêu chí ở dưới. Còn thân bơm với vòng ngoài vòng bi thì lắp theo hệ trục (xem vòng ngoài vòng bi là trục). Bạn cũng cần lưu ý việc lắp chặt hay trung gian có thể ảnh hưởng đến khe hở vòng bi khi làm việc nên cần cân nhắc cho phù hợp với điều kiện vận hành, loại vòng bi (cùng loại vòng bi, vòng bi C2, C3 có khe hở nhỏ hơn C4, C4 nhỏ hơn C5). Nếu bạn đang dùng C3, lắp trung gian mà chuyển sang lắp chặt có thể làm giảm tuổi thọ vòng bi vì khe hở giảm hoặc không đáp ứng yêu cầu làm việc. Sơ đồ miền dung sai Miền dung sai Miền dung sai được tạo ra bằng cách phối hợp giữa  1...

Khớp nối ( coupling ) - Những dạng khớp nối ( ebook )

Đây là tuyển tập nói về những chủng loại khớp nối khác nhau, những kết cấu, ứng dụng của từng loại khớp nối, ưu và nhược điểm của từng loại. Hình chụp, có lẫn cả hình vẽ 3D, rất đẹp, dễ quan sát. Bản tiếng Anh. Nó đây, 7 file ( pdf ) Phần 1 Phần 2 Phần 3 Phần 4 Phần 5 Phần 6 Phần 7 SCCK.TK (theo blog Phuc Linh )

Tải miễn phí phần mềm triển khai hình gò

Phần mềm này sẽ giúp các bạn đưa ra bản vẽ triển khai gia công đầy đủ và chính xác, cho phép các bạn xuất ra bản vẽ Autocad để tiện hơn cho việc tính toán, in ấn , quản lý. [MF] —–  nhấn chọn để download Lưu ý: sau khi giải nén và cài đặt thì chép pns4.exe (có sẵn sau khi giải nén) đè lên file pns4.exe mới. Phiên bản này có đầy đủ kích thước với các kiểu ống và help. Nên chạy run as administrator trong win 7. Xin chào bạn!  Nếu bạn đang thích trang web của chúng tôi và thấy các bài viết của chúng tôi hữu ích, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của bạn. Với sự giúp đỡ của bạn, chúng tôi có thể tiếp tục phát triển tài nguyên và cung cấp cho bạn nội dung có giá trị hơn nữa.  Cảm ơn bạn đã ủng hộ chúng tôi. Nguyễn Thanh Sơn

Tặng ebook: Root Cause Failure Analysis (Phân tích tìm nguyên nhân hư hỏng)

Để chào đón phiên bản web mới, baoduongcokhi.com gửi tặng các bạn ebook hay: Root Cause Failure Analysis. Ebook contents: Part I: Introduction to Root Cause Failure Analysis Chapter 1 Introduction Chapter 2 General Analysis Techniques Chapter 3 Root Cause Failure Analysis Methodology Chapter 4 Safety-Related Issues Chapter 5 Regulatory Compliance Issues Chapter 6 Process Performance   Part II: Equipment Design Evaluation Guide Chapter 7 Pumps Chapter 8 Fans. Blowers, and Fluidizers Chapter 9 Conveyors Chapter 10 Compressors Chapter I I Mixers and Agitators Chapter 12 Dust Collectors Chapter 13 Process Rolls Chapter 14 Gearboxes/Reducers Chapter 15 Steam Traps Chapter 16 Inverters Chapter 17 Control Valves Chapter 18 Seals and Packing

Thử nghiệm thủy tĩnh - hydrostatic test

Viết bài: Thanh Sơn (cập nhật 2/2023), bản quyền thuộc về wwwbaoduongcokhi.com   Hư hỏng khi thử thủy tĩnh bình áp lực Thử nghiệm thủy tĩnh (hay còn gọi là hydrostatic test) là một phương pháp kiểm tra tính an toàn và độ bền của các thiết bị dưới tác động của áp suất nước. Thử nghiệm này thường được sử dụng để kiểm tra các đường ống, bồn chứa, hệ thống ống dẫn, van và các thiết bị khác trong các ngành công nghiệp dầu khí, hóa chất, thực phẩm, năng lượng điện và nhiều ngành công nghiệp khác. Khi thực hiện thử nghiệm thủy tĩnh, nước được bơm vào thiết bị đang được kiểm tra cho đến khi áp suất nước đạt đến một mức độ xác định. Thiết bị sẽ được giữ ở áp suất nước này trong một khoảng thời gian nhất định, thường là từ một vài giờ đến một vài ngày. Trong quá trình này, các kỹ sư kiểm tra và giám sát áp suất và xem xét sự xuất hiện của các vết rò rỉ hoặc sự biến dạng của thiết bị. Sau khi thử nghiệm thủy tĩnh hoàn thành, nước sẽ được xả ra khỏi thiết bị và thiết bị sẽ được kiểm tra k...

BẢNG TRA SIZE FLANGE, BOLT & NUT

Tra size bolt- nut 1- BẢNG TRA SIZE FLANGE, BOLT & NUT For class 150 Flanges STT size of flanges (inches) number of bolt Đường kính Bolt (Inches) Đường kính Bolt  ( MM) Leng of blots  L =mm 1 1/2 4 1/2 M14 60-60 2 3/4 4 1/2 M14 65-65 3 1 4 1/2 M14 65-80 4 1 1/4 4 1/2 M14 70-85 5 1 1/2 4 1/2 M14 70 85 6 2 4 5/8 M16 85 95 7 2/ 1/2 4 5/8 M16 90 100 8 ...

Đo thông số răng nào, khi chế bánh răng mới thay bánh răng bị hỏng

Về những thông số của bánh răng, có rất nhiều thông số để phục vụ cho quá trình gia công, thiết kế và lắp đặt máy. Tuy nhiên có một số thông số cơ bản bắt buộc người chế tạo cần phải nắm rõ, gồm: Đường kính Vòng đỉnh (Tip diameter): là đường tròn đi qua đỉnh răng,  da = m (z+2) . Đường kính Vòng đáy (Root diameter): là vòng tròn đi qua đáy răng,  df = m (z-2.5) . Đường kính Vòng chia (Reference diameter): là đường tròn tiếp xúc với một đường tròn tương ứng của bánh răng khác khi 2 bánh ăn khớp với nhau,  d = m.Z   Số răng:  Z=d/m Bước răng (Circular Pitch): là độ dài cung giữa 2 profin của 2 răng kề nhau đo trên vòng chia,  P=m. π Modun: là thông số quan trọng nhất của bánh răng,  m = P/π ; ha=m. Chiều cao răng (whole depth): là khoảng cách hướng tâm giữa vòng đỉnh và vòng chia;  h=ha + hf=2.25m, trong đó ha=1 m, hf=1,25 Chiều dày răng (width): là độ dài cung tròn giữa 2 profin của một răng đo trên vòng tròn chia;  St = P/2 = m/2 Chiều rộng r...

Cách kiểm tra và đánh giá vết ăn khớp (tooth contact) của cặp bánh răng

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về  www.baoduongcokhi.com Hộp số với cặp bánh răng nghiêng Tooth contact là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động hiệu quả và độ bền của bánh răng Mục đích Các bánh răng phải có tải trọng phân bố đều trên bề mặt răng khi làm việc ở điều kiện danh định.  Nếu tải trọng phân bố không đều, áp lực tiếp xúc và ứng suất uốn tăng cục bộ , làm tăng nguy cơ hư hỏng.  Gear Run Out của bánh răng là gì? cách kiểm tra Bánh răng và hộp số, phần 3: Phân tích dầu tìm nguyên nhân hư hỏng bánh răng. Bánh răng và Hộp số, phần 2: Các loại hộp số, bôi trơn, hư hỏng thường gặp Bánh răng và hộp số, phần 1: Các loại bánh răng (types of gears) Để đạt được sự phân bố tải đều, bánh răng cần có độ chính xác trong thiết kế, sản xuất, lắp ráp và lắp đặt các bộ phận của hộp số. Các yếu tố này được kiểm tra, test thử nghiệm và kiểm tra tại xưởng của nhà sản xuất thiết bị. Lắp đặt đúng cách tại hiện trường là bước cuối cùng để ...

Giải thích ý nghĩa ký hiệu vòng bi SKF [P1]

Ký hiệu của ổ lăn được chia ra làm hai nhóm chính: ký hiệu của ổ lăn tiêu chuẩn và ký hiệu của ổ lăn đặc biệt. Ổ lăn tiêu chuẩn là những ổ lăn có kích thước được tiêu chuẩn hóa trong khi ổ lăn đặc biệt là những ổ lăn có kích thước dặc biệt theo yêu cầu của khách hàng. Những ổ lăn chế tạo theo yêu cầu này được ký hiệu bằng “số bản vẽ” và chúng cũng không được nêu chi tiết trong phần này. Một ký hiệu đầy đủ bao gồm một ký hiệu cơ bản mà một hoặc nhiều ký hiệu phụ (- giản đồ 1). Ký hiệu đầy đủ bao gồm ký hiệu cơ bản và các ký hiệu phụ luôn luôn được ghi trên bao bì của ổ lăn, trong khi đó ký hiêu ghi trên ổ lăn đôi khi không đầy dủ vì những lí do sản xuất. Ký hiệu cơ bản xác định : Chủng loại Thiết kế cơ bản Kích thước tiêu chuẩn của ổ lăn. Những ký hiệu phụ xác định : Những thàng phần của ổ lăn và / hoặc Những thay đổi về thiết kế và / hoặc đăc tính khác vơi thiêt kế tiêu chuẩn. Ký hiệu phụ có thể đứng trước ký hiệu cơ bản (tiếp đầu ngữ) hoặc đứng sau (tiế...

Khe hở mặt răng (backlash) và khe hở chân/đỉnh răng (root/tip clearance)

Viết bài : Nguyễn Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Các thông số cơ bản của bánh răng Về những thông số của bánh răng, có rất nhiều thông số để phục vụ cho quá trình gia công, thiết kế và lắp đặt máy. Tuy nhiên có một số thông số cơ bản bắt buộc người chế tạo cần phải nắm rõ, gồm: Đường kính Vòng đỉnh (Tip diameter): là đường tròn đi qua đỉnh răng, da = m (z+2) . Đường kính Vòng đáy (Root diameter): là vòng tròn đi qua đáy răng, df = m (z-2.5) . Đường kính Vòng chia (Reference diameter): là đường tròn tiếp xúc với một đường tròn tương ứng của bánh răng khác khi 2 bánh ăn khớp với nhau, d = m.Z   Số răng: Z=d/m Bước răng (Circular Pitch): là độ dài cung giữa 2 profin của 2 răng kề nhau đo trên vòng chia, P=m. π Modun: là thông số quan trọng nhất của bánh răng, m = P/π ; ha=m. Chiều cao răng (whole depth): là khoảng cách hướng tâm giữa vòng đỉnh và vòng chia; h=ha + hf=2.25m, trong đó ha=1 m, hf=1,25 Chiều dày răn...