Chuyển đến nội dung chính

Chìa khóa giải quyết vấn đề hư hỏng do mỏi (Fatigue Failure)

Chìa khóa giải quyết vấn đề hư hỏng do mỏi (Fatigue Failure)




Sự Mỏi của kim loại là một dạng hư hỏng mà mọi nhà máy sản xuất sẽ phải trải qua vào một thời điểm nào đó và có thể xảy ra thường xuyên nếu không được giải quyết. 

Trong khi sự hiểu biết về sự mỏi của kim loại đã được nâng cao kể từ khi ra đời vào đầu những năm 1800, vẫn còn một số hiểu lầm trong sản xuất, trong việc giải quyết những hư hỏng này. 

Một đặc điểm của hư hỏng do mỏi là ứng suất, thường nằm dưới giới hạn chảy của vật liệu. Đây là nguyên nhân khiến sự mỏi trở thành sát thủ thầm lặng. 

Hiện tượng mỏi xảy ra trên một chi tiết máy chịu ứng suất thay đổi hoặc theo chu kỳ. 

Ứng suất theo chu kỳ có thể gây ra hỏng hóc sau một số chu kỳ nhất định. 

Sự mỏi trở thành một dạng hư hỏng khi các vết nứt bắt đầu tại nơi các ứng suất tập trung trên một chi tiết máy. 

Khi giải quyết các hư hỏng do mỏi, có hai vấn đề chính cần tập trung phân tích: 

Các lực bên ngoài gây ra ứng suất theo chu kỳ và thiết kế chi tiết máy làm giảm giới hạn bền của vật liệu. 

Đó là ở một hoặc cả hai vấn đề này, nơi có thể tìm ra giải pháp cho các hư hỏng do mỏi. 

Vì vậy, chúng ta hãy xem xét kỹ hơn hai vấn đề chính này. 

1: Xác định, sau đó, giảm hoặc loại bỏ ứng suất theo chu kỳ

Bước quan trọng đầu tiên là đọc/hiểu chính xác bề mặt đứt gãy để xác định dạng mỏi. 

Các dạng mỏi khác nhau sẽ chỉ ra loại ứng suất gây ra sự mỏi. 

Sự mỏi có thể là uốn một chiều, uốn ngược, uốn xoay, xoắn hoặc căng. 

Uốn xoay là một trong những cơ chế hư hỏng phổ biến nhất đối với thiết bị quay, khi xảy ra hiện tượng gãy do mỏi. 

Tải trọng xoắn thường không đổi trong các ứng dụng có ứng suất tổ hợp và, nếu thay đổi, thường là ứng suất xung dao động. 

Các vật liệu có độ bền cao thường bị gãy giòn, trong khi các vật liệu có độ bền thấp thường bị gãy kiểu uốn. 

Mặt phẳng gãy cũng có thể giúp xác định loại mỏi. Hầu hết các hư hỏng do xoắn xảy ra ở mặt phẳng đứt gãy 45 độ, trong khi uốn thường xảy ra ở mặt phẳng đứt gãy 90 độ.

Sự đứt gãy do mỏi có thể được mô tả thêm là chu kỳ cao hoặc chu kỳ thấp và ứng suất cao hoặc ứng suất thấp. 

Kích thước của vùng đứt gãy nhanh hoặc cuối cùng, so với vùng mỏi sẽ tiết lộ nếu sự cố là ứng suất mỏi cao hay thấp. 

Vùng đứt gãy nhanh là vùng đứt gãy do quá tải sau khi tác động lan truyền lên chi tiết đó một lượng mỏi. 

Sự mỏi có thể là mỏi cơ học thuần túy hoặc mỏi do ăn mòn. Sự mỏi do ăn mòn làm giảm đáng kể độ bền mỏi của vật liệu. 

Dấu vết bánh răng cóc (Ratchet marks) ở bên ngoài chỗ gãy cho thấy dấu hiệu bắt đầu gãy. 

Dấu hiệu bãi biển, Beach marks (tức là dấu tiến triển) cho thấy lịch sử và đường đi của vết nứt. 

Vị trí xuất phát của vết nứt có thể là góc rãnh then hoặc bán kính bước trục (hay bán kính góc lượn của trục). 

Hình sau đây cho thấy một ví dụ về một số đặc điểm sự mỏi kim loại cơ bản. Có thể cần sự hỗ trợ từ phòng thí nghiệm phân tích kim loại để xác định cơ chế mỏi.

Khi đã biết dạng mỏi, có thể xác định được nguồn gốc của ứng suất chu kỳ phù hợp với vết gãy do mỏi. 

Ứng suất uốn là một trong những loại ứng suất chủ yếu gây ra hỏng hóc do mỏi. Nó có thể bắt nguồn từ phản lực của bộ truyền động xích hoặc dây đai, tải trọng công xôn, trục bị lệch tâm hoặc tải trọng phản lực từ hoạt động của thiết bị. 

Ví dụ, mỏi ở mắt xích (chain link) được xác định là mỏi do uốn ngược. Ban đầu, các bộ xích khác nhau được lắp đặt, nhưng đều có lỗi giống nhau. 

Một cuộc điều tra kỹ hơn cho thấy sự hư hỏng lặp lại này chỉ xảy ra ở má xích trong của mắt xích. Khu vực duy nhất mà ứng suất uốn có thể xảy ra trên má xích trong này là xung quanh đĩa xích. 

Mỗi vòng quay xung quanh răng đĩa xích tạo ra một ứng suất uốn theo chu kỳ lên mắt xích trong. Nguyên nhân của ứng suất theo chu kỳ được tìm thấy là do đĩa xích bị mòn (xem Hình 2 đến Hình 4). 

Loại bỏ ứng suất uốn theo chu kỳ bằng cách thay thế các đĩa xích bị mòn đã loại bỏ lực gây mỏi. 

Kết quả là ứng suất theo chu kỳ thấp hơn giới hạn chịu đựng hay giới hạn bền mỏi của vật liệu. Sự tập trung ứng suất tại đường rèn trên má xích trong là nơi bắt đầu xuất hiện vết nứt, nhưng việc loại bỏ ứng suất chu kỳ lớn là nguyên nhân gốc rễ. 

Tuy nhiên, có những thời điểm khác, khi mà ứng suất chu kỳ có thể được giảm bớt bằng cách lắp ráp chính xác, chẳng hạn như độ căng dây đai hay độ căng xích thích hợp trên trục truyền động. 

 Hai: Phân tích thiết kế các chi tiết máy để cải thiện giới hạn bền mỏi và giảm nguy cơ mỏi 

Trong hầu hết các trường hợp, ứng suất theo chu kỳ chỉ là một chức năng của hoạt động bình thường và không thể được giảm bớt hoặc loại bỏ. 

Trong những trường hợp này, giải pháp phải xem xét hai vấn đề: thiết kế chi tiết  máy và loại bỏ nứt. 

Một phân tích tập trung về vị trí bắt đầu nứt mỏi trên chi tiết có thể mang lại các hành động bổ sung để chống lại các hư hỏng do mỏi trong tương lai. 

Thiết kế chi tiết máy bắt đầu với vật liệu. Vật liệu rất quan trọng để hiểu được khả năng chống mỏi của chi tiết. 

Giới hạn bền mỏi là mức ứng suất mà tại đó một chi tiết có thể chịu được ứng suất theo chu kỳ mà không bị hỏng do mỏi. 

Thiết kế của một chi tiết máy, trong đó ứng suất theo chu kỳ thấp hơn giới hạn bền mỏi, sẽ loại bỏ hư hỏng do mỏi trong tuổi thọ của chi tiết. 

Đường cong ét nờ trong Hình 5 cho thấy giới hạn bền mỏi trong thiết kế của một chi tiết có thể dẫn đến tuổi thọ vô hạn như thế nào và việc giảm giới hạn bền mỏi có thể dẫn đến tuổi thọ mỏi giới hạn của chi tiết máy móc như thế nào. 

Các sai sót trong thiết kế làm giảm giới hạn bền mỏi mỏi đến một điểm mà một số chu kỳ giới hạn hay chu kỳ nhất định sẽ dẫn đến hỏng mỏi. 

 Khái niệm này là cơ bản, tuy nhiên, giới hạn bền mỏi có thể bị giảm bởi nhiều yếu tố thiết kế, chẳng hạn như bề mặt, kích thước, tải trọng và nhiệt độ, cũng như các yếu tố khác, như tập trung ứng suất rãnh then, bán kính góc lượn của trục và ăn mòn. Các điều chỉnh này có thể được áp dụng để tìm giới hạn bền mỏi như công thức sau: 

Ứng suất cao nhất thường ở bề mặt của vật liệu, vì vậy đây là khu vực chính cần tập trung sự quan tâm. 

Yếu tố bề mặt có thể làm giảm đáng kể giới hạn bền mỏi. Nhiều khi, lớp hoàn thiện bề mặt hoặc khuyết tật bề mặt sẽ là những gì cục bộ hóa ứng suất theo chu kỳ gây ra sự mỏi . 

Nguyên tắc chung là phải có bề mặt độ nhám trung bình (Ra), không quá 32 micron, điều này sẽ giữ cho hệ số bề mặt, Ka, trong phạm vi 0,85 đến 0,9 đối với hầu hết các loại thép các bon thấp. Độ nhám trung bình tăng từ 32 đến 250 mi cờ rô mét có thể làm giảm 25% giới hạn bền mỏi. 

Không chỉ độ bền mỏi của vật liệu là quan trọng hàng đầu mà vật liệu cũng sẽ có các đặc tính gia công rất khác nhau có thể dẫn đến các vết công cụ (Toolmarks) và sự tập trung ứng suất. 

Vật liệu hạt mịn cũng thường mang lại khả năng chống mỏi cao hơn vật liệu hạt thô. Nhiều ranh giới hạt hơn có thể cản trở sự lan truyền vết nứt. 

Độ dẻo dai của chất liệu cũng là một yếu tố cần quan tâm khi lựa chọn vật liệu. Độ dẻo dai là diện tích nằm dưới đường cong ứng suất và được định nghĩa là năng lượng trên một đơn vị thể tích trước khi đứt gãy. 

Độ dẻo dai của vật liệu cho phép vật liệu hấp thụ năng lượng ứng suất. Thép cacbon trung bình có độ dẻo dai cao nhất khi so sánh với thép cacbon cao và thép cacbon thấp. 

 Ví dụ về ảnh hưởng của các yếu tố bề mặt sẽ là mỏi do uốn quay điển hình trên một trục như trong Hình 6. 

Các dấu cắt máy công cụ trên bán kính góc lượn trục vốn đã nhỏ đã làm tăng sự tập trung ứng suất của trục, dẫn đến hỏng mỏi do uốn quay. 

 Do yếu tố bề mặt là một trong những yếu tố thiết kế và chế tạo chống mỏi quan trọng nhất, nên có nhiều phương pháp xử lý bề mặt, có thể cách ly bề mặt khỏi ứng suất chu kỳ và điểm khởi nguồn của nứt do mỏi. 

Nhiều trong số này, gây ra ứng suất bề mặt nén ở độ sâu nào đó. Ứng suất kéo bề mặt trên chi tiết phải thắng ứng suất nén bề mặt trước khi chi tiết xuất hiện ứng suất mỏi theo chu kỳ. 

Một số trong số này bao gồm, thấm các bon, thấm ni tơ, hoặc rèn bằng búa. Đánh bóng điện hóa cung cấp một lớp hoàn thiện siêu mịn giúp cải thiện yếu tố bề mặt, nhưng nó sẽ loại bỏ một số vật liệu khỏi chi tiết. Mạ điện có thể làm giảm giới hạn bền mỏi vì hiện tượng giòn do hydro là một vấn đề đáng lo ngại. 

Đối với nhiều hệ thống, có rất ít việc có thể được thực hiện để giảm ứng suất chu kỳ cho hoạt động bình thường. Tăng kích thước chi tiết cũng sẽ làm giảm ứng suất theo chu kỳ trên chi tiết mà không cần phải giảm lực hay tải trọng theo chu kỳ. 

Đối với nhiệt độ, nhiều loại thép các bon thấp sẽ ít bị tác động ở nhiệt độ đến 204 độ C, nhưng có thể đáng kể với nhiệt độ gần 537 độ C. 

Thay đổi sự tập trung ứng suất, chẳng hạn như tăng bán kính góc lượn của trục, sẽ làm giảm ứng suất mỏi gây ra trên chi tiết. Hầu hết các tiêu chuẩn không cung cấp chi tiết về bán kính góc lượn của trục hợp lý là gì. 

Nếu không tính toán chi tiết, hãy sử dụng bán kính góc lượn của trục lớn như thiết kế cho phép. Một số hướng dẫn chung về bán kính góc lượn của trục tương tự như trong Hình 8. 

Hư hỏng do mỏi  không phải là một bí ẩn hoặc trở thành bệnh mãn tính trong nhà máy của bạn. 

Bằng cách tập trung vào hai vấn đề chính là giảm ứng suất theo chu kỳ và cải thiện giới hạn bền mỏi, sự mỏi có thể được giải quyết. 

   

Related Posts by Categories



Nhận xét

Bài đăng xem nhiều

Dung sai và các chế độ lắp ghép bề mặt trụ trơn [pdf]

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Ví dụ bạn cần gia công 1 trục bơm ly tâm 1 cấp, khi lên bản vẽ gia công thì cần dung sai gia công, việc chọn dung sai gia công thì căn cứ vào kiểu lắp ghép như vị trí lắp vòng bi: đối với vòng trong vòng bi với trục bơm thì sẽ lắp theo hệ thống lỗ (vì kích thước vòng bi không thay đổi được), nên việc lắp chặt hay trung gian là do bạn lựa chọn dựa trên các tiêu chí ở dưới. Còn thân bơm với vòng ngoài vòng bi thì lắp theo hệ trục (xem vòng ngoài vòng bi là trục). Bạn cũng cần lưu ý việc lắp chặt hay trung gian có thể ảnh hưởng đến khe hở vòng bi khi làm việc nên cần cân nhắc cho phù hợp với điều kiện vận hành, loại vòng bi (cùng loại vòng bi, vòng bi C2, C3 có khe hở nhỏ hơn C4, C4 nhỏ hơn C5). Nếu bạn đang dùng C3, lắp trung gian mà chuyển sang lắp chặt có thể làm giảm tuổi thọ vòng bi vì khe hở giảm hoặc không đáp ứng yêu cầu làm việc. Sơ đồ miền dung sai Miền dung sai Miền dung sai được tạo ra bằng cách phối hợp giữa  1...

Tải miễn phí phần mềm triển khai hình gò

Phần mềm này sẽ giúp các bạn đưa ra bản vẽ triển khai gia công đầy đủ và chính xác, cho phép các bạn xuất ra bản vẽ Autocad để tiện hơn cho việc tính toán, in ấn , quản lý. [MF] —–  nhấn chọn để download Lưu ý: sau khi giải nén và cài đặt thì chép pns4.exe (có sẵn sau khi giải nén) đè lên file pns4.exe mới. Phiên bản này có đầy đủ kích thước với các kiểu ống và help. Nên chạy run as administrator trong win 7. Xin chào bạn!  Nếu bạn đang thích trang web của chúng tôi và thấy các bài viết của chúng tôi hữu ích, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của bạn. Với sự giúp đỡ của bạn, chúng tôi có thể tiếp tục phát triển tài nguyên và cung cấp cho bạn nội dung có giá trị hơn nữa.  Cảm ơn bạn đã ủng hộ chúng tôi. Nguyễn Thanh Sơn

BẢNG TRA SIZE FLANGE, BOLT & NUT

Tra size bolt- nut 1- BẢNG TRA SIZE FLANGE, BOLT & NUT For class 150 Flanges STT size of flanges (inches) number of bolt Đường kính Bolt (Inches) Đường kính Bolt  ( MM) Leng of blots  L =mm 1 1/2 4 1/2 M14 60-60 2 3/4 4 1/2 M14 65-65 3 1 4 1/2 M14 65-80 4 1 1/4 4 1/2 M14 70-85 5 1 1/2 4 1/2 M14 70 85 6 2 4 5/8 M16 85 95 7 2/ 1/2 4 5/8 M16 90 100 8 ...

Tặng ebook: Root Cause Failure Analysis (Phân tích tìm nguyên nhân hư hỏng)

Để chào đón phiên bản web mới, baoduongcokhi.com gửi tặng các bạn ebook hay: Root Cause Failure Analysis. Ebook contents: Part I: Introduction to Root Cause Failure Analysis Chapter 1 Introduction Chapter 2 General Analysis Techniques Chapter 3 Root Cause Failure Analysis Methodology Chapter 4 Safety-Related Issues Chapter 5 Regulatory Compliance Issues Chapter 6 Process Performance   Part II: Equipment Design Evaluation Guide Chapter 7 Pumps Chapter 8 Fans. Blowers, and Fluidizers Chapter 9 Conveyors Chapter 10 Compressors Chapter I I Mixers and Agitators Chapter 12 Dust Collectors Chapter 13 Process Rolls Chapter 14 Gearboxes/Reducers Chapter 15 Steam Traps Chapter 16 Inverters Chapter 17 Control Valves Chapter 18 Seals and Packing

KỸ THUẬT SIẾT BULÔNG MẶT BÍCH

Kỹ thuật siết bu lông mặt bích phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ cứng của vật liệu, áp lực làm việc, đường kính bu lông, số lượng bu lông, v.v. Dưới đây là một số hướng dẫn chung về kỹ thuật siết bu lông mặt bích: 1- Chọn loại bu lông phù hợp với mặt bích và ứng dụng: Trước khi siết bu lông, bạn cần chọn loại bu lông phù hợp với mặt bích và ứng dụng. Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng bu lông có độ cứng và độ bền phù hợp để chịu được áp lực và đảm bảo tính toàn vẹn của mặt bích. 2- Kiểm tra độ sạch và bôi trơn: Bạn cần đảm bảo rằng bề mặt của bu lông, đai ốc, mặt bích và vùng tiếp xúc được làm sạch và bôi trơn trước khi siết bu lông. Điều này giúp đảm bảo sự kết nối chặt chẽ giữa các bộ phận và hạn chế sự ăn mòn và rỉ sét. 3- Sử dụng công cụ siết bu lông: Sử dụng công cụ siết bu lông phù hợp để đảm bảo lực siết đúng như yêu cầu. Thường thì sẽ có các thông số như lực siết tối đa, lực siết khuyến nghị và mô-men xoắn cần thiết để siết bu lông. Xem kênh Youtube của Bảo Dưỡng Cơ Khí!  Hãy...

Nguyên lý hoạt động tuabin hơi (steam turbine)

Giới thiệu Tua bin hơi (steam turbine)  là loại máy biến đổi nhiệt năng sinh ra từ hơi có áp suất thành động năng sau đó chuyển hóa thành cơ năng làm trục quay. Trục này được kết nối với một máy phát điện ( Generator ) để sản xuất điện. Một phần rất lớn các yêu cầu về điện năng của thế giới được đáp ứng bởi các tuabin hơi nước này, có mặt trong các nhà máy điện hạt nhân, nhiệt điện và điện than. Riêng ở Mỹ, khoảng 88% điện năng được sản xuất bằng cách sử dụng các tuabin hơi nước. Tua bin hơi nước hiện đại đầu tiên được phát triển bởi Sir Charles A. Parsons vào năm 1884. Kể từ đó, rất nhiều cải tiến đáng kể đã được thực hiện về năng lực và hiệu quả sản xuất. Tua bin hơi nước được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy điện chu trình hỗn hợp . Trong các nhà máy này, tuabin khí tạo ra nhiệt và năng lượng từ khói thải có thể được tận dụng để sản xuất hơi nước để chạy tuabin hơi. Sự kết hợp của hai tuabin này với nhau giúp sản xuất điện có hiệu quả trong các nhà máy này. Về cơ bản, hiện na...

Khe hở mặt răng (backlash) và khe hở chân/đỉnh răng (root/tip clearance)

Viết bài : Nguyễn Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Các thông số cơ bản của bánh răng Về những thông số của bánh răng, có rất nhiều thông số để phục vụ cho quá trình gia công, thiết kế và lắp đặt máy. Tuy nhiên có một số thông số cơ bản bắt buộc người chế tạo cần phải nắm rõ, gồm: Đường kính Vòng đỉnh (Tip diameter): là đường tròn đi qua đỉnh răng, da = m (z+2) . Đường kính Vòng đáy (Root diameter): là vòng tròn đi qua đáy răng, df = m (z-2.5) . Đường kính Vòng chia (Reference diameter): là đường tròn tiếp xúc với một đường tròn tương ứng của bánh răng khác khi 2 bánh ăn khớp với nhau, d = m.Z   Số răng: Z=d/m Bước răng (Circular Pitch): là độ dài cung giữa 2 profin của 2 răng kề nhau đo trên vòng chia, P=m. π Modun: là thông số quan trọng nhất của bánh răng, m = P/π ; ha=m. Chiều cao răng (whole depth): là khoảng cách hướng tâm giữa vòng đỉnh và vòng chia; h=ha + hf=2.25m, trong đó ha=1 m, hf=1,25 Chiều dày răn...

Cách tính toán phương pháp cân chỉnh Rim-Face

Ø  Đối với phương đứng: bạn cần tính toán theo hướng dẫn dưới đây Các thông số để tính toán cân chỉnh theo phương pháp RIM-FACE Hình: các thông số cần cho tính toán lượng di chuyển các chân máy bằng phương pháp Rim-Face Trong đó: A=Khoảng cách từ mặt phẳng đo tới chân sau của máy dịch chuyển B= Khoảng cách từ mặt phẳng đo tới chân trước của máy dịch chuyển D=Đường kính tạo ra khi đồng hồ so quét trên mặt phẳng đo (mặt khớp nối) b R =Số đo Rim của đồng hồ so tại vị trí đáy khi sét 0 ở trên đỉnh b F = Số đo Face của đồng hồ so tại vị trí đáy khi sét 0 ở trên đỉnh F=Lượng shim cần thiết ở hai chân trước R= Lượng shim cần thiết ở hai chân sau Để đo được cần chuẩn bị:2 đồng hồ so, thước mét Tính toán theo 2 công thức sau: Với 2 công thức này, bạn đã tính xong lượng shim cần them vào hay bớt ra ở hai chân trước và 2 chân sau. Quy ước: - Nếu tính ra kết quả dương (+) thì có nghĩa phải thêm một lượng shim F hay R ở các chân. - Nếu tính ra kết quả âm (-) thì có ...

Tải Giáo trình bảo dưỡng và bảo trì thiết bị cơ khí [pdf]

Tên giáo trình: Giáo trình bảo dưỡng và bảo trì thiết bị cơ khí. Tác giả: Nguyễn Công Cát. NXB: Lao động xã hội Lời nói đầu Trường CĐCN Hà Nội đã và đang thực hiện dự án (HIC - J1CA) do chính phủ Nhật Bản viện trợ. Mục tiêu của dự án là: Tăng cường khả năng đào tạo công nhân kỹ thuật cho ba ngành (gia công cơ khí, gia công kim loại tấm, điều khiển điện - điện tử). Các thiết bị được viện trợ đều là những thiết bị công nghệ cao như các máy công cụ điểu khiển số, máy công cụ vạn năng có độ chính xác cao, máy đo ba chiểu (3D), máy mài tròn, mài phẳng... Ngoài những kiến thức về chuyên môn, học sinh còn được hiểu biết về những kiến thức kỹ thuật bảo trì bảo dưỡng máy và thiết bị thường ngày sử dụng. Để đáp ứng nhu cầu học và dạy của trường chúng tôi soạn thảo giáo trình: Bảo dưỡng & bảo trì thiết bị cơ khí. Giáo trình đề cập những kiến thức cơ bản về kỹ thuật sửa chữa, bảo dưỡng, bảo trì máy và thiết bị với kiến thức này giúp cho học sinh có thể phát hiện, bảo dưỡng bảo trì, sửa...

Đo thông số răng nào, khi chế bánh răng mới thay bánh răng bị hỏng

Về những thông số của bánh răng, có rất nhiều thông số để phục vụ cho quá trình gia công, thiết kế và lắp đặt máy. Tuy nhiên có một số thông số cơ bản bắt buộc người chế tạo cần phải nắm rõ, gồm: Đường kính Vòng đỉnh (Tip diameter): là đường tròn đi qua đỉnh răng,  da = m (z+2) . Đường kính Vòng đáy (Root diameter): là vòng tròn đi qua đáy răng,  df = m (z-2.5) . Đường kính Vòng chia (Reference diameter): là đường tròn tiếp xúc với một đường tròn tương ứng của bánh răng khác khi 2 bánh ăn khớp với nhau,  d = m.Z   Số răng:  Z=d/m Bước răng (Circular Pitch): là độ dài cung giữa 2 profin của 2 răng kề nhau đo trên vòng chia,  P=m. π Modun: là thông số quan trọng nhất của bánh răng,  m = P/π ; ha=m. Chiều cao răng (whole depth): là khoảng cách hướng tâm giữa vòng đỉnh và vòng chia;  h=ha + hf=2.25m, trong đó ha=1 m, hf=1,25 Chiều dày răng (width): là độ dài cung tròn giữa 2 profin của một răng đo trên vòng tròn chia;  St = P/2 = m/2 Chiều rộng r...