Chuyển đến nội dung chính

Hiện tượng tạo bọt khí bánh xe công tác TUABIN FRANCIS ở chế độ gần đầy tải

Các bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng các dải xoáy bọt khí xâm thực hình xoắn ốc có thể xuất hiện trong tuabin Francis ở chế độ vận hành đầy tải. Các dao động áp lực nảy sinh cùng lúc với các dòng xoáy hình xoắn ốc (spiraling vortex) có thể gây hại cho tuabin. Bài viết giải thích về sự không ổn định về dòng chảy này dựa trên lý thuyết của P. Krishnamchar, Arpad A. Fay và Saroj Rangnekar về hiện tượng hẫng luân chuyển (rotating stall).


Tuabin Francis ở nhà máy thủy điện Tam Hiệp, Trung Quốc
Như chúng ta đã biết, ở tuabin thủy lực Francis, các dao động áp lực thường xuất hiện trong ống hút ở chế độ vận hành non tải. Những dao động này có thể lớn đến mức không cho phép vận hành non tải dưới một mức giới hạn. Làm thế nào để tránh được sự hạn chế này hay chí ít là nới lỏng giá trị giới hạn cho đến nay vẫn là một mục tiêu nghiên cứu căn bản. Trong một số ít trường hợp, sự không ổn định có hại thậm chí còn xảy ra khi vận hành đầy tải. Bài viết này nhằm giải thích sự không ổn định khi vận hành đầy tải.
Thoma (1910) và Ackert (1930) đã nghiên cứu vấn đề không ổn định này của tuabin thủy lực Francis, tuy nhiên Deriaz (1960) mới là người đầu tiên đưa ra kiến giải dựa trên tiến động của con quay hồi chuyển. Ông cũng đã phát hiện ra mối tương quan mật thiết giữa dao động áp lực trong ống hút và các dải bọt khí xâm thực xoay (rotating cavitation rope) quan sát được ở hạ lưu mayơ bánh xe công tác. Dải thẳng (Hình 1, Ảnh 1) không gây ra hoặc chỉ gây ra các dao động nhỏ trong khi những dải hình xoắn ốc (Hình 2, Ảnh 2 xem trang bên) là rất nguy hiểm về mặt đó. Trong các thử nghiệm của Deriaz, tỉ lệ giữa tốc độ của hình xoắn ốc bọt khí xâm thực xoay và tốc độ trong ống hút là từ 14% đến 34%, và tỉ lệ này đối với nguyên mẫu cũng như đối với mô hình là xấp xỉ như nhau. Sau này, báo cáo của Giraud (1966) cho thấy biên độ các dao động cũng có những biến thiên tương tự trong mô hình cũng như trong nguyên mẫu. Như vậy là từ lâu, người ta đã biết rõ có thể nghiên cứu sự không ổn định về dòng chảy của các nguyên mẫu thông qua các mô hình tuabin của chúng. Qua năm tháng, một số khảo sát đã được tiến hành, kể cả một số tài liệu quan trọng được công bố mới đây, vậy mà dường như vấn đề vẫn chưa được giải quyết.
Hiện tượng không ổn định khi làm việc đầy tải còn ít được hiểu rõ hơn. Deriaz đề xuất ý tưởng cho rằng hiện tượng tạo bọt khí xâm thực cánh bánh xe công tác có thể đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành các dải bọt khí xâm thực hình xoắn ốc ở chế độ đầy tải. Gần đây, Brekke đã có báo cáo về các dao động công suất cỡ 50 đến 60 MW ở chế độ đầy tải đối với một nguyên mẫu công suất 315 MW. Ông đã tính toán tương tác giữa dải bọt khí xâm thực với các khoảng tích nước khác trong hệ thống (buồng điều áp và không khí khí quyển tại cuối ống hút) và đã giải thích các đột biến khi đầy tải dựa trên cơ sở này. Bài viết này khẳng định hiện tượng hẫng luân chuyển có thể là một cách giải thích khả dĩ nữa cho các đột biến khi đầy tải.
Thử nghiệm trên mô hình
Fay đã có báo cáo về các thử nghiệm mô hình tuabin Francis với nq= n.Q0,5.H-0,75 = 34 [vg/ph, m3/sec, m], đường kính lỗ thoát D = 260 mm, cột nước ròng H="30" m, giữ không đổi trong suốt quá trình thử nghiệm. Sự phát triển của bọt khí xâm thực khi s giảm được thể hiện ở Hình 1, nhận được khi mở hoàn toàn tại n11= nD/H0,5 = 45,3 [vg/phút, m, m] điểm gần đầy tải của nguyên mẫu khảo sát. Khi giảm s, hình thành dải bọt khí xâm thực thẳng (Ảnh 1), và trong điều kiện dòng chảy này, không quan sát thấy có hiện tượng dao động áp lực.

Hình 1. Sự phát triển của dải bọt khí xâm thực thẳng khi s giảm. Mở hoàn toàn, n11 = 45,3, điểm gần điểm đầy tải của mẫu thử, điểm A trên Hình 3. Hình 2. Sự phát triển của hiện tượng bọt khí xâm thực khi s giảm, mở hoàn toàn tại n11 = 40,8, điểm B trong Hình 3.
Hình 2 thể hiện sự phát triển của bọt khí xâm thực khi mở hoàn toàn, như ở Hình 1, nhưng ở tốc độ đơn vị nhỏ hơn: n11="41" (Điểm B trên Hình 3). Khi giảm dần s, thì dải bọt khí xâm thực hình xoắn ốc được hình thành (Ảnh 2). Tại những giá trị s nhỏ hơn, dải này biến thành các dải bọt khí bội (Ảnh 3), và sau đó thành những khối bọt khí xâm thực lớn (Hình 2).
Hiện tượng bọt khí xâm thực (cavitation) không gây ra dao động áp lực. Các dao động này cũng có mặt ở mô hình tại các giá trị s lớn khi hiện tượng bọt khí xâm thực bị triệt tiêu. Các dao động lúc này là do dòng nước hình xoắn ốc gây ra dẫn đến hình thành một trường áp lực xoáy. Các đường xoắn ốc đặc không có lõi bọt khí (tại điểm s lớn nhất trên Hình 2) có thể lại nguy hiểm hơn các dòng chảy với dải bọt khí xâm thực đơn (tại các giá trị s nhỏ hơn). Hiện tượng tạo bọt khí xâm thực chỉ khiến cho các đường dòng xoáy nhìn thấy được. Các dải bội ít nguy hiểm hơn, còn các khối bọt khí xâm thực lớn thì không nguy hiểm.
Các đột biến về công suất là do dòng chảy xoắn ốc đi vào đoạn khuỷu của ống hút. Ống hút khuỷu cuốn dòng nước xoắn ốc về phía kênh xả khiến nó bị lệch tâm so với bánh xe công tác. Hình xoắn ốc và do đó trường áp lực không còn đồng trục với bánh xe công tác nữa. Tại lối vào đoạn khuỷu, trong quá trình xoay một nửa của đường xoắn ốc, vùng áp lực thấp (lõi của đường xoắn ốc) di chuyển từ phía nguồn tới hạ lưu của ống hút, và do đó trở lực dòng chảy của ống hút thay đổi đồng pha với sự quay của dải bọt khí. Theo ý tưởng này, các dao động công suất là do những thay đổi về trở lực của ống hút gây ra.

Ảnh 1. Dải bọt khí xâm thực thẳng trên Hình 1, tại s = 0,34 Hình 2 tại s = 0,23.
Ảnh 2. Dải bọt khí xâm thực dạng xoắn ốc (nguy hiểm)
Ảnh 3. Dải bọt khí xâm thực bội (không quá nguy hiểm),

Trong các ống hút thẳng, giống như các thiết kế tuabin Francis kiểu cổ, các dòng chảy xoắn ốc có thể xuất hiện, tuy nhiên dòng chảy khi ra khỏi ống hút thì êm ả, có nghĩa là không gây ra dao động công suất.
Hình 2 cũng giúp giải thích ảnh hưởng của không khí cuốn vào. Khi không khí vào ở mayơ tuabin, khi đó áp lực tăng lên trong dây bọt khí xâm thực. Chênh lệch áp suất giữa dòng chảy chính và dây bọt khí xâm thực giảm đi. Các điều kiện dòng chảy tương tự như các điều kiện đo được tại các giá trị s nhỏ hơn. Như có thể thấy ở Hình 2, s giảm (hoặc lượng không khí cuốn vào tăng) sẽ tạo nên những dải bọt khí dày xoay đối xứng, và chúng không tạo ra các dao động trong ống khuỷu. Đó là một trong các lý do vì sao không khí cuốn vào giúp giảm các hiện tượng công suất đập mạch. Cũng dễ thấy trong Hình 2, không khí cuốn vào có thể tác động triệt tiêu dòng xoắn ốc mà không ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất.
Hình 3 chỉ ra vị trí của các điểm vận hành nói trên trong biểu đồ mô hình. Điểm A ứng với Hình 1 với dải bọt khí thẳng, và điểm B ứng với Hình 2 với dải bọt khí hình xoắn ốc.
Vùng hoạt động an toàn với sợi xoáy thẳng hoặc không có sợi xoáy nằm giữa hai vùng dòng chảy xoắn ốc (Hình 3). Cần lưu ý rằng chế độ vận hành tuabin như vậy hoàn toàn không có hiện tượng hẫng. Các điểm làm việc chạy của nguyên mẫu phải được đặt trong dải hoạt động an toàn này.
Nếu chẳng may điểm công suất lớn nhất của nguyên mẫu (góc trên bên trái của vùng nguyên mẫu) lại rơi vào trong dải các dòng chảy xoắn ốc, thì khi đó các đột biến về áp lực sẽ xuất hiện. Điều này có thể là lý do tại sao các dao động công suất lại xảy ra trong một số nguyên mẫu ở chế độ đầy tải.
Hẫng luân chuyển
Hẫng luân chuyển là hiện tượng phổ biến trong các máy nén khí và quạt gió. Nó cũng có thể xuất hiện trong các dòng chảy không nén được, như trong các bộ khuếch tán hướng tâm không có cánh hướng, và ở các cánh quay của bơm. Do vậy chẳng có lý do gì để hiện tượng hẫng luân chuyển không xảy ra trong các tuabin thủy lực gần các điều kiện hẫng cánh tuabin.
Hiện tượng hẫng đã được định nghĩa rõ ràng đối với các dòng chảy quanh các cánh đơn dạng khí động học (airfoil). Xem Hình 4. Nếu góc va (attack angle) của cánh dạng khí động học xấp xỉ bằng góc tới lý tưởng (ideal incidence angle) của nó, thì dòng chảy ra khỏi cánh dạng khí động học sẽ êm ả và có thể tạo ra một hệ số lực nâng đáng kể (đối với cánh dạng khí động học hẹp thì góc này là khoảng ±10o)
Nếu góc va khác nhiều so với góc lý tưởng thì dòng chảy ra khỏi cánh dạng khí động học sẽ là dòng chảy rối và hệ số nâng sẽ tụt xuống (hình 4). Điều kiện này được gọi là hẫng. Nó có thể xuất hiện hoặc ở cạnh hút hoặc ở cạnh áp lực của cánh dạng khí động học.
Hiện tượng hẫng cũng có thể xuất hiện ở bánh xe công tác Francis (hình 5) trên cạnh hút hay cạnh áp lực của cánh bánh xe công tác, tuỳ thuộc vào góc va là lớn hơn nhiều hay nhỏ hơn nhiều góc tối ưu. Hiện tượng hẫng xảy ra tại bánh xe công tác, ở vành đỉnh hoặc ở vành chân hoặc ở lưng chừng, tuỳ thuộc vào dạng hình học của bánh xe công tác.
Khái niệm cơ bản của hiện tượng hẫng luân chuyển được giải thích trong phần lý thuyết máy nén khí. Nếu các cánh của bánh xe công tác không hoàn toàn giống nhau, thì khi đó với góc va lớn hơn hoặc nhỏ hơn, một trong các cánh bánh xe sẽ bắt đầu bị hẫng. Dòng chảy trong kênh bị hẫng ảnh hưởng tới dòng chảy trong các kênh dòng chảy cạnh đó. Tuy nhiên, bởi vì các kênh cạnh nó đã gần như ở tình trạng bị hẫng nên chỉ cần một lực kéo nhỏ từ một phía cũng có thể làm hẫng một trong các kênh cạnh nó. Khi kênh cạnh nó bị hẫng thì hiện tượng hẫng biến mất trong kênh đầu tiên. Do đó, hiện tượng hẫng dịch chuyển từ cánh này sang cánh khác, luân chuyển trong bánh xe công tác.
Tại đầu phía hạ lưu của kênh bị hẫng, áp lực chắc chắn là nhỏ hơn ở các kênh khác. Vùng áp lực thấp ở hạ lưu kênh bị hẫng dịch chuyển lõi xoáy (tức là dải bọt khí) từ đường tâm hướng tới thành ống hút. Như vậy, hiện tượng hẫng di chuyển tạo ra đường xoáy xoay tròn cùng với vùng hẫng.
Lý thuyết về hiện tượng hẫng luân chuyển là rất phức tạp. Có các vùng hẫng bội khi có nhiều hơn một vùng hẫng luân chuyển đồng thời. Tuy nhiên, bắt đầu hiện tượng hẫng (chuyển từ dòng chảy đều đặn sang hẫng) thường bao gồm một vùng hẫng duy nhất trong một kênh duy nhất, và một vùng hẫng luân chuyển duy nhất sẽ tạo ra một xoắn ốc duy nhất trong dòng chảy. Bước phát triển tiếp theo của hiện tượng hẫng với sự thay đổi góc va có thể bao gồm nhiều kênh bị hẫng hơn, nhiều vùng hẫng luân chuyển bội, nhiều dòng xoáy bội và nhiều dải bọt khí xâm thực bội.
Lý thuyết trên về áp lực đập mạch trong tuabin Francis cũng giải thích vì sao tuabin Kaplan lại ít bị hiện tượng đập mạch này. Trong các tuabin Kaplan, hoạt động dựa trên đường cam, các cánh bánh xe công tác luôn luôn quay khớp với tốc độ chảy vào, và vì thế tránh được hiện tượng hẫng trong dải hoạt động thông thường.
Dựa trên điểm cuối này, cần phải lưu ý rằng các tuabin cánh quạt điều chỉnh đơn cánh hướng có thể có những vấn đề mất ổn định tương tự với trường xoáy của các dao động áp lực như ở các tuabin Francis, nhưng có lẽ với cường độ yếu hơn bởi vì chúng vận hành ở áp lực thấp hơn tức là cột nước thấp hơn.
Trong các nghiên cứu về dòng chảy xoắn ốc trong tuabin Francis, tốc độ đường xoắn ốc bằng khoảng từ 14% tới 53% tốc độ của bánh xe công tác. Trong các máy nén, tốc độ hẫng luân chuyển cũng vậy, chỉ bằng một phần của tốc độ rôto, dưới 50%. Điều này xem ra cho thấy có sự tương đồng nhất định giữa những dòng chảy này ở góc độ các dải xoáy được khai mào bởi hiện tượng hẫng.
Như vậy những luận điểm chính hỗ trợ cho nguyên lý về hiện tượng hẫng luân chuyển tại bánh xe công tác tuabin Francis là:
• Sự tách dòng trong quạt gió và máy bơm bắt đầu với hiện tượng hẫng luân chuyển. Vì sao mà ở bánh xe công tác của tuabin Francis lại không thể có?
• Góc va tính toán của các cánh hướng tại các điểm làm việc của các đường giới hạn của các dòng xoắn ốc (Hình 3) giống như khi có nhiều khả năng xảy ra hẫng. Mệnh đề này có đúng hay không phụ thuộc vào tiêu chí về hẫng.
• Sự xuất hiện các dao động áp lực ở chế độ đầy tải phù hợp với các khái niệm trên.
• Ở các tuabin vận hành với ống hút thẳng không có hiện tượng dao động công suất. Điều này cho thấy vai trò của ống khuỷu.
• Ảnh hưởng của không khí cuốn vào cũng giải thích mối quan hệ với hiện tượng hẫng: khi tăng tốc độ dòng chảy không khí thì đường kính của dải bọt không khí-hơi nước cũng tăng lên, với nhiều vùng hẫng luân chuyển và kết quả dòng chảy không xoắn ốc.
• Các tuabin Kaplan, với các cánh bánh xe công tác được chỉnh định tới vị trí thích hợp để tránh hiện tượng hẫng, nên ít phải chịu những dao động áp lực như vậy.
• Đường xoắn ốc xoay muộn hơn khi so sánh với sự quay của các cánh tuabin, điều này cho thấy nguyên nhân của đường xoắn ốc di chuyển từ cánh này sang cánh khác, giống như hiện tượng hẫng luân chuyển.
Kết luận
Rôta dư, được cho là do hiện tượng bọt khí xâm thực ở tâm bánh xe công tác, gây ra sự xoáy tổng thể trong dòng chảy sau bánh xe công tác có cánh cố định, một dòng xoáy đồng trục với tuabin, lõi của nó gắn với hình côn bánh xe công tác. Không có lí do gì để nó phát triển thành hình xoắn ốc gắn với các cánh tuabin và lệch tâm so với bánh xe công tác. Vì vậy, hiện tượng hẫng luân chuyển có quan hệ lớn hơn với các lõi đường xoắn ốc, nếu như không nói là duy nhất.
Các dao động khi đầy tải cũng là bởi các dòng chảy hình xoắn ốc, hiện tượng hẫng có thể giải thích cho điều này, dựa trên mối tương quan với các kết quả thu được trong phòng thí nghiệm.
Các đặc tính hẫng luân chuyển vẫn chưa được khám phá hết. Tuy nhiên, nắm được cơ sở vật lý của sự mất ổn định có giúp các nhà thiết kế tuabin mẫu tạo ra các dạng tuabin với dải hoạt động an toàn rộng. Các nhà thiết kế và vận hành nguyên mẫu nên thận trọng và đặt các điểm làm việc của nguyên mẫu vào trong dải an toàn. Nếu không sẽ không có phương cách nào khắc phục sự mất ổn định ngoài việc để không khí cuốn vào.
HIENDAIHOA.COM (Theo icon.evn.com.vn )

Related Posts by Categories



Nhận xét

Bài đăng xem nhiều

Dung sai và các chế độ lắp ghép bề mặt trụ trơn [pdf]

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Ví dụ bạn cần gia công 1 trục bơm ly tâm 1 cấp, khi lên bản vẽ gia công thì cần dung sai gia công, việc chọn dung sai gia công thì căn cứ vào kiểu lắp ghép như vị trí lắp vòng bi: đối với vòng trong vòng bi với trục bơm thì sẽ lắp theo hệ thống lỗ (vì kích thước vòng bi không thay đổi được), nên việc lắp chặt hay trung gian là do bạn lựa chọn dựa trên các tiêu chí ở dưới. Còn thân bơm với vòng ngoài vòng bi thì lắp theo hệ trục (xem vòng ngoài vòng bi là trục). Bạn cũng cần lưu ý việc lắp chặt hay trung gian có thể ảnh hưởng đến khe hở vòng bi khi làm việc nên cần cân nhắc cho phù hợp với điều kiện vận hành, loại vòng bi (cùng loại vòng bi, vòng bi C2, C3 có khe hở nhỏ hơn C4, C4 nhỏ hơn C5). Nếu bạn đang dùng C3, lắp trung gian mà chuyển sang lắp chặt có thể làm giảm tuổi thọ vòng bi vì khe hở giảm hoặc không đáp ứng yêu cầu làm việc. Sơ đồ miền dung sai Miền dung sai Miền dung sai được tạo ra bằng cách phối hợp giữa  1 sai

Bảo trì năng suất toàn diện (Total Productive Maintenance)

Toàn bộ file điện tử powerpoint này: TPM P-1.ppt 1382K TPM P-2.ppt 336K TPM P-3.ppt 2697K Link download http://www.mediafire.com/?upl33otz5orx0e1

Cách kiểm tra và đánh giá vết ăn khớp (tooth contact) của cặp bánh răng

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về  www.baoduongcokhi.com Hộp số với cặp bánh răng nghiêng Tooth contact là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động hiệu quả và độ bền của bánh răng Mục đích Các bánh răng phải có tải trọng phân bố đều trên bề mặt răng khi làm việc ở điều kiện danh định.  Nếu tải trọng phân bố không đều, áp lực tiếp xúc và ứng suất uốn tăng cục bộ , làm tăng nguy cơ hư hỏng.  Gear Run Out của bánh răng là gì? cách kiểm tra Bánh răng và hộp số, phần 3: Phân tích dầu tìm nguyên nhân hư hỏng bánh răng. Bánh răng và Hộp số, phần 2: Các loại hộp số, bôi trơn, hư hỏng thường gặp Bánh răng và hộp số, phần 1: Các loại bánh răng (types of gears) Để đạt được sự phân bố tải đều, bánh răng cần có độ chính xác trong thiết kế, sản xuất, lắp ráp và lắp đặt các bộ phận của hộp số. Các yếu tố này được kiểm tra, test thử nghiệm và kiểm tra tại xưởng của nhà sản xuất thiết bị. Lắp đặt đúng cách tại hiện trường là bước cuối cùng để đảm bảo khả năng ti

Chọn vật liệu chế tạo bánh răng và xử lý nhiệt

Viết bài: Thanh Sơn, bản quyền thuộc về  www.baoduongcokhi.com Điều cần thiết là chọn vật liệu và xử lý nhiệt thích hợp phù hợp với ứng dụng dự kiến ​​của bánh răng. Vì các bánh răng được ứng dụng cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau, chẳng hạn như máy móc công nghiệp, thiết bị điện/điện tử, đồ gia dụng và đồ chơi, và bao gồm nhiều loại vật liệu, nên chúng tôi muốn giới thiệu các vật liệu điển hình và phương pháp xử lý nhiệt của chúng. Hộp số 1. Các loại vật liệu chế tạo bánh răng a) S45C (Thép cacbon dùng cho kết cấu máy): S45C là một trong những loại thép được sử dụng phổ biến nhất, chứa lượng carbon vừa phải ( 0,45% ). S45C dễ kiếm được và được sử dụng trong sản xuất bánh răng trụ thẳng, bánh răng xoắn, thanh răng, bánh răng côn và bánh răng trục vít bánh vít . Xử lý nhiệt và độ cứng đạt được: nhiệt luyện độ cứng Không < 194HB Nhiệt luyện bằng cách nung nóng, làm nguội nhanh (dầu hoặc nước) và ram thép, còn gọi là quá trìnhT

Một số thiết bị chưng cất

Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của nền công nghiệp thế giới và nước nhà, các ngành công nghiệp cần rất nhiều hoá chất có độ tinh khiết cao. Chưng cất  ( distillation ) là quá trình dùng nhiệt để tách một hỗn hợp lỏng ra thành các cấu tử riêng biệt dựa vào độ bay hơi khác nhau của các cấu tử trong hỗn hợp ở cùng một nhiệt đo. Chưng cất = Gia nhiệt + Ngưng tụ Ta có thể phân biệt chưng cất ra thành quy trình một lần như trong phòng thí nghiệm để tách một hóa chất tinh khiết ra khỏi một hỗn hợp, và chưng cất liên tục, như trong các tháp chưng cất trong công nghiệp.  Xem kênh Youtube của Bảo Dưỡng Cơ Khí!  Hãy đăng ký kênh để nhận thông báo video mới nhất về Thiết bị chưng cất  Trong nhiều trường hợp có một tỷ lệ nhất định của hỗn hợp hai chất lỏng mà không thể tiếp tục tách bằng phương pháp chưng cất được nữa. Các hỗn hợp này được gọi là hỗn hợp đẳng phí. Nếu muốn tăng nồng độ của cồn phải dùng đến các phương pháp tinh cất đặc biệt khác. Có thể sử dụng các loại tháp chưng cất

Giới thiệu về Tua bin khí (Gas Turbine)

Turbine khí, còn được gọi là tuốc bin khí  (Gas Turbine) , là một loại động cơ nhiệt được sử dụng để chuyển đổi nhiệt năng thành năng lượng cơ học thông qua quá trình đốt cháy khí và chuyển động quay turbine. Một máy phát điện Generator kéo bởi một tuốc bin khí. Đây là tổ hợp của máy nén khí + tuốc bin khí + máy phát điện. Không khí được hút vào và nén lên áp suất cao nhờ một máy nén. Nhiên liệu cùng với không khí này sẽ được đưa vào buồng đốt để đốt cháy. Khí cháy sau khi ra khỏi buồng đốt sẽ được đưa vào quay turbine. Vì thế nên mới gọi là turbine khí. Năng lượng cơ học của turbine một phần sẽ được đưa về quay máy nén, một phần khác đưa ra quay tải ngoài, như cách quạt, máy phát điện... Đa số các turbine khí có một trục, một đầu là máy nén, một đầu là turbine. Đầu phía turbine sẽ được nối với máy phát điện trực tiếp hoặc qua bộ giảm tốc. Riêng mẫu turbine khí dưới đây có 3 trục. Trục hạ áp gồm máy nén hạ áp và turbine hạ áp. Trục cao áp gồm máy nén cao áp và turbine cao áp. Trục th

Tải miễn phí phần mềm triển khai hình gò

Phần mềm này sẽ giúp các bạn đưa ra bản vẽ triển khai gia công đầy đủ và chính xác, cho phép các bạn xuất ra bản vẽ Autocad để tiện hơn cho việc tính toán, in ấn , quản lý. [MF] —–  nhấn chọn để download Lưu ý: sau khi giải nén và cài đặt thì chép pns4.exe (có sẵn sau khi giải nén) đè lên file pns4.exe mới. Phiên bản này có đầy đủ kích thước với các kiểu ống và help. Nên chạy run as administrator trong win 7. Xin chào bạn!  Nếu bạn đang thích trang web của chúng tôi và thấy các bài viết của chúng tôi hữu ích, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của bạn. Với sự giúp đỡ của bạn, chúng tôi có thể tiếp tục phát triển tài nguyên và cung cấp cho bạn nội dung có giá trị hơn nữa.  Cảm ơn bạn đã ủng hộ chúng tôi. Nguyễn Thanh Sơn

Khe hở mặt răng (backlash) và khe hở chân/đỉnh răng (root/tip clearance)

Viết bài : Nguyễn Thanh Sơn, bản quyền thuộc về www.baoduongcokhi.com Các thông số cơ bản của bánh răng Về những thông số của bánh răng, có rất nhiều thông số để phục vụ cho quá trình gia công, thiết kế và lắp đặt máy. Tuy nhiên có một số thông số cơ bản bắt buộc người chế tạo cần phải nắm rõ, gồm: Đường kính Vòng đỉnh (Tip diameter): là đường tròn đi qua đỉnh răng, da = m (z+2) . Đường kính Vòng đáy (Root diameter): là vòng tròn đi qua đáy răng, df = m (z-2.5) . Đường kính Vòng chia (Reference diameter): là đường tròn tiếp xúc với một đường tròn tương ứng của bánh răng khác khi 2 bánh ăn khớp với nhau, d = m.Z   Số răng: Z=d/m Bước răng (Circular Pitch): là độ dài cung giữa 2 profin của 2 răng kề nhau đo trên vòng chia, P=m. π Modun: là thông số quan trọng nhất của bánh răng, m = P/π ; ha=m. Chiều cao răng (whole depth): là khoảng cách hướng tâm giữa vòng đỉnh và vòng chia; h=ha + hf=2.25m, trong đó ha=1 m, hf=1,25 Chiều dày răng (w

CÔNG NGHỆ GIA CÔNG VẬT LIỆU BẰNG DÒNG HẠT MÀI

Gia công dòng hạt mài (Abrasive Jet Machining - AJM)   1. Nguyên lý gia công :                                                   Hình 1: Nguyên lý gia công dòng hạt mài.  Gia công dòng hạt mài là phương pháp bóc vật liệu khi dòng khí khô mang hạt mài với vận tốc cao tác động lên chi tiết. Sự va đập của các phần tử hạt mài vào bề mặt chi tiết gia công tạo thành một lực tập trung đủ lớn, gây nên một vết nứt nhỏ, và dòng khí mang cả hạt mài và mẩu vật liệu nứt (mòn) đi ra xa. Phương pháp này rất thuận lợi để gia công các loại vật liệu giòn, dễ vỡ. Khí bao gồm nhiều loại như không khí, CO2, nitơ, heli,…  Khí sử dụng có áp suất từ 0,2 - 1,4 MPa, dòng khí có hạt mài có vận tốc lên đến 300m/s và được điều khiển bởi một van. Quá trình thường được thực hiện bởi một công nhân điều khiển vòi phun hướng dòng hạt mài chi tiết.  Xem kênh Youtube của Bảo Dưỡng Cơ Khí!  Hãy đăng ký kênh để nhận thông báo video mới nhất về Công nghệ gia công kim loại 2. Thiết bị và dụng cụ :  a. Máy:   Hình 2: Sơ đồ củ

Sơ đồ tuabin khí chu trình hỗn hợp (combined cycle)

Viết bài KS Nguyễn Thanh Sơn, bản quyền thuộc về  www.baoduongcokhi.com CCGT được gọi là chu trình kết hợp trong nhà máy điện, có sự tồn tại đồng thời của hai chu trình nhiệt trong một hệ thống, trong đó một lưu chất làm việc là hơi nước và một lưu chất làm việc khác là một sản phẩm khí đốt. Giải thích rõ hơn: Turbine khí chu trình hỗn hợp (Combined Cycle Gas Turbine - CCGT) là một hệ thống phát điện sử dụng cùng một nguồn nhiên liệu để vận hành hai loại máy phát điện khác nhau: một máy phát điện dẫn động bởi tuabin khí (gas turbine) và một máy phát điện dẫn động bởi tuabin hơi nước (steam turbine). Hệ thống CCGT được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy điện, do có thể giảm thiểu lượng khí thải và tăng tính hiệu quả trong việc sử dụng năng lượng. Nhà máy điện CCGT Trong hệ thống CCGT, nguồn nhiên liệu (thường là khí tự nhiên natural gas hoặc dầu) được đốt trong máy tuabin khí dẫn động cho máy phát điện generator để sản xuất điện. Hơi nước được tạo ra từ lò hơi thu hồi nhiệt (Heat Recove

Nghe Podcast Bảo Dưỡng Cơ Khí